Ngộ độc cấp opioid

Nguồn các bài viết trên trang đều theo Hướng dẫn chấn đoán và điều trị bệnh nội khoa – Bệnh viện Bạch Mai

NGỘ ĐỘC CẤP OPlOID

I. ĐẠI CƯƠNG

– Các hợp chất opioid gồm các hợp chất có tự nhiên trong nhựa cây thuốc phiện, các dẫn chất là các opiat (ví dụ: morphin, heroin, codein, và hydrocodon) và các chất tổng hợp (ví dụ fentanyl, butorphanol, meperidin, và methadon).

– Heroin có tác dụng mạnh, là chất thường được sử dụng nhất gây ngộ độc, nghiện và các bệnh lí kèm theo.

– Chẩn đoán ngộ độc cấp opioid chủ yếu dựa trên lâm sàng, việc xử trí tập trung vào việc khôi phục lại nhịp thở và hỗ trợ hô hấp nếu cần.

II. CHẨN ĐOÁN

1. Chẩn đoán xác định

a. Lâm sàng

– Hỏi bệnh: có dùng ma túy.

– Vết tiêm chích.

– Có thể loét niêm mạc mũi nếu hít heroin kéo dài.

-Triệu chứng ngộ độc opioid:

+ Hôn mê yên tĩnh.

+ Đồng tử co.

+ Thở chậm hoặc ngừng thở.

+ Có thể có phù phổi cấp, tụt huyết áp, co giật.

+ Bệnh nhân đáp ứng sau khi tiêm naloxon (tỉnh hơn, tự thở trở lại, đồng tử giãn hơn).

b. Xét nghiệm

– Tìm opioid dương tính trong nước tiểu, với các opioid tổng hợp (ví dụ fentanyl, methadon, tramadol) kết quả xét nghiệm có thể âm tính nếu xét nghiệm bằng phương pháp miễn dịch (ví dụ dùng que thử nước tiểu).

– Xquang phổi trong trường hợp nghi ngờ phù phổi cấp.

2. Chẩn đoán phân biệt

– Ngộ độc phospho hữu cơ, carbamat: thường bệnh cảnh tự sát, xét nghiệm độc chất và enzym Cholinesterase.

– Xuất huyết thân não: chụp cắt lớp sọ não.

– Ngộ độc các thuốc ngủ, an thần khác: xét nghiệm độc chất.

III. ĐIỀU TRỊ

Điều trị ngộ độc cấp opioid là điều trị tại tuyến cơ sở.

1. Naloxon

– Cách dùng: dùng càng sớm càng tốt, tiêm tĩnh mạch 0,4mg/lần, nhắc lại cho tới khi bệnh nhân có nhịp tự thở ≥ 8 lần/phút, thường chỉ cần 1-3 lần.

– Trường hợp ngộ độc do giấu bao, gói ma túy trong đường tiêu hóa (nuốt, chứa trong trực tràng) thì cần dùng kéo dài hơn (truyền tĩnh mạch duy trì).

– Có thể cần các liều rất cao đối với ngộ độc pentazocin, diphenoxylat, methadon và propoxyphen đường uống.

Tinh trạng tái ngộ độc opioid: do naloxon có thời gian bán hủy và tác dụng ngắn (thời gian tác dụng 20-90 phút tùy thuộc liều opioid, liều và đường dùng của naloxon, tốc độ thải trừ của cả hai chất) nên nếu bệnh nhân ngộ độc opioid liều cao hoặc dùng opioid dạng giải phóng chậm, tác dụng kéo dài thì các triệu chứng ngộ độc sẽ xuất hiện trở lại, cần theo dõi bệnh nhân thêm ít nhất 3-4 giờ sau dùng naloxon liều cuối và xử trí thêm nếu cần.

Dùng quá liều naloxone gây ra hội chứng cai opioid: đồng tử giãn, thở nhanh, kích thích, vã mồ hôi. Cho diazepam (Seduxen) nếu cần.

2. Điều trị hỗ trợ

Suy hô hấp:

+ Thở chậm, ngừng thở: bóp bóng hoặc nếu ngộ độc nặng thì thở máy.

+ Phù phổi cấp: lợi tiểu tĩnh mạch, thở máy không xâm nhập CPAP+PS (nếu tĩnh, hợp tác) hoặc đặt nội khí quản thở máy có PEEP.

+ Xử trí đụng giập phổi, gãy xương sườn, tràn máu màng phổi nếu có.

– Tụt huyết áp: truyền dịch để đảm bảo thể tích máu. Nếu HA tâm thu < 90mmHg, đặt đường truyền tĩnh mạch trung tâm, đo áp lực tĩnh mạch trung tâm (ALTMTT), nếu ALTMTT thấp, truyền dịch đảm bảo ALTMTT, dùng thuốc vận mạch.

3. Hạn chế hấp thu

– Nội soi dạ dày gắp lấy gói ma túy nếu bệnh nhân mới nuốt trong vòng vài giờ đầu.

– Rửa ruột toàn bộ nếu bệnh nhân nuốt gói ma túy đã lâu, gói ma túy xuống ruột: dùng Fortrans, pha 1 gói/1 lít nước, uống hoặc truyền qua ống thông dạ dày tới khi bệnh nhân có phân nước kèm theo gói ma túy.

IV. PHÒNG BỆNH

– Không sử dụng ma túy.

– Sử dụng các thuốc là opioid đúng chỉ định và liều lượng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Vũ Văn Đính và cộng sự (2005), “Opi và morphine”. Hồi sức cấp cứu toàn tập, Tr. 399-402, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.

2. Timothy E. Albertson (2007), ‘‘Opiates and Opioids”. Poisoning and Drug overdose, 5th edition, Me Graw Hill-LANGE, electronic version.

3. POISINDEX® Managements (2010), “Opioids/opioid antagonist”. MICROMEDEX® 1.0 (Healthcare Series), Thomson Reuters.