Tăng huyết áp

Tăng huyết áp (THA) chiếm tỉ lệ cao trong các bệnh tim mạch. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỉ lệ THA 3 – 18% dân số thế giới, ở Việt Nam, theo điều tra của Viện Tim mạch (2008), tỉ lệ THA là 25,1% ở những người > 25 tuổi.

Tăng huyết áp ở phụ nữ mang thai

Tăng huyết áp ở phụ nữ mang thai (THA) gặp ở khoảng 5% tổng số phụ nữ có thai, ở các nước phát triển tăng huyết áp ở sản phụ là một trong nguyên nhân chính dẫn đến tử vong mẹ và con chu sinh.

Rối loạn lipid máu

Rối loạn lipid máu là tình trạng tăng cholesterol, triglycerid (TGs) huyết tương hoặc cả hai, hoặc giảm nồng độ lipoprotein phân tử lượng cao (HDL-C), tăng nồng độ lipoprotein phân tử lượng thấp (LDL-C) làm gia tăng quá trình vữa xơ động mạch

Thấp tim

Định nghĩa: thấp tim là một bệnh viêm cấp tính có tính chất toàn thân (có liên quan đến miễn dịch) xảy ra sau một hay nhiều đợt viêm họng do liên cầu beta tan huyết nhóm A theo phân loại của Lancefield. Bệnh biểu hiển bằng một hội chứng bao gồm: viêm đa khớp, viêm tim, múa giật, hạt dưới da, ban đỏ vòng.

Phù phổi cấp huyết động

Phù phổi cấp huyết động là hậu quả của nhiều bệnh tim mạch: tăng huyết áp (THA), hẹp hai lá (HHL), nhồi máu cơ tim (NMCT), các rối loạn nhịp nhanh…) đây là một cấp cứu nội khoa đòi hỏi phải được phát hiện sớm và xử lí chính xác, hợp lí nếu không người bệnh có nguy cơ tử vong cao.

Đau thắt ngực không ổn định và nhồi máu cơ tim không có ST chênh lên

Đau thắt ngực không ổn định (Unstable Angina) (ĐTNKÔĐ) là một trong những vấn đề khá thời sự hiện nay do tính chất thường gặp của nó cũng như nhiều tiến bộ mới trong chẩn đoán và điều trị.

Nhồi máu cơ tim cấp

Nhồi máu cơ tim cấp là hiện tượng hoại tử bất kì một lượng cơ tim nào do nguyên nhân thiếu máu cục bộ. Nhồi máu cơ tim cấp là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở Mỹ và các nước châu Âu. Tại Việt Nam trong những năm gần đây, nhồi máu cơ tim cấp có xu hướng gia tăng nhanh chóng.

Hẹp van hai lá

Hẹp van hai lá (HHL) là bệnh van tim có tỉ lệ mắc và tỉ lệ tử vong cao trong các bệnh tim hiện nay ở Việt Nam.

Nguyên nhân chính do tổn thương thấp tim gây ra. Ngoài ra, số nhỏ là hẹp van hai lá bẩm sinh.

Hở van hai lá

Hở van hai lá (HoHL) là tình trạng van hai lá đóng không kín nên có dòng máu từ thất trái về nhĩ trái trong thời kì tâm thu.

Nguyên nhân do hở hai lá có nhiều: do hậu quả của thấp tim (hay gặp nhất), bẩm sinh (van hai lá hình dù, sa van hai lá, …)

Hẹp van động mạch chủ

Hep van động mạch chủ (ĐMC) là tình trạng tắc nghẽn sự tống máu của thất trái do diện tích lỗ van ĐMC giảm. Hẹp van ĐMC chiếm 1/4 số các bệnh nhân van tim. 80% các bệnh nhân hẹp van ĐMC là nam giới.

Hở van động mạch chủ

Hở van động mạch chủ (HoC) là tình trạng dòng máu phụt ngược từ động mạch chủ về thất trái trong ki tâm trương vi van động mạch chủ đóng không kín gây nên tăng gánh thể tích thất trái.

Thông liên nhĩ

Thông liên nhĩ (TLN) chiếm khoảng từ 5% đến 10% các trường hợp tim bẩm sinh. Có bốn dạng thông liên nhĩ thông thường: TLN kiểu lỗ thứ hai, TLN kiểu lỗ thứ nhất, TLN kiểu xoang tĩnh mạch và TLN thể xoang vành.

Thông liên thất

Thông liên thất (TLT) là tổn thương bẩm sinh hay gặp nhất (chiếm khoảng 25% các bệnh tim bẩm sinh) do khuyết một hay nhiều nơi trên vách liên thất gây thông giữa hai tâm thất.

Còn ống động mạch

– Còn ống động mạch là bệnh tim bẩm sinh thường gặp (10% các trường hợp bệnh tim bẩm sinh).

– Nữ nhiều hơn nam (tỉ lệ 2-3/1).

Hẹp van động mạch phổi

Hẹp van động mạch phổi (ĐMP) đơn thuần là tổn thương thực thể tại van gây cản trở đường tống máu lên phổi. Thể này chiếm 80%-90% các bệnh lí gây cản trở đường tống máu của thất phải và chiếm khoảng 7-12% trong các bệnh lí tim bẩm sinh.

Nhịp nhanh thất

Nhịp nhanh thất là rối loạn nhịp tim có vị trí khởi phát từ tâm thất, từ chỗ phân nhánh của bó His trở xuống. Nhịp nhanh thất khi có một chuỗi từ 3 ngoại tâm thu thất trở lên.

Nhịp nhanh thất có tần số thường từ 100 – 200 chu kì/phút (ck/ph). Khi tần số từ 250 đến 300ck/ph thường là cuồng thất và rung thất thường có tần số > 350ck/ph.

Nhịp nhanh trên thất

Nhịp nhanh trên thất là một thuật ngữ rộng bao hàm nhiều loại rối loạn nhịp nhanh có cơ chế và nguồn gốc khác nhau. Ngày nay với những tiến bộ của thăm dò điện sinh lí học người ta đã hiểu được các cơ chế gây ra các cơn nhịp nhanh và từ đó đưa ra các cách phân loại cơn nhịp nhanh trên thất cũng như phương pháp điều trị hữu hiệu nhất.